RỦI RO PHÁP LÝ KHI CÓ BỒ NHÍ

Tin tức

Tin tức

RỦI RO PHÁP LÝ KHI CÓ BỒ NHÍ

Ngày đăng : 05/11/2020 - 1:39 PM

 

I. Thực trạng xã hội

 

Báo chí hàng ngày, dăm ba hôm lại có những tin giật gân: Chồng ngoại tình bị vợ bắt tại trận; mẹ chồng phối hợp cùng con dâu đánh ghen lột đồ tình địch giữa phố v.v…và tất nhiên, xung quanh những vụ việc như vậy là những quan điểm trái chiều, đúng – sai về cách hành xử của những người trong cuộc. Bài viết này không đề cập đến vấn đề đạo đức, chỉ bàn luận dưới lăng kính pháp lý nhằm làm rõ những vấn đề xung quanh đang còn tồn tại và vướng mắc.

 

Theo từ điển tiếng Việt, “bồ nhí” là một danh từ (khẩu ngữ) dùng để chỉ nhân tình còn rất trẻ tuổi (của một người đã đứng tuổi; hàm ý châm biếm). Trong khoa học pháp lý, không hề có bất kỳ một định nghĩa nào về 2 từ “bồ nhí”. Dưới góc độ pháp lý, quan hệ vợ chồng được pháp luật điều chỉnh thông qua Luật hôn nhân gia đình và những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành có liên quan. Quan hệ này được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ngược lại quan hệ bồ nhí lại là quan hệ xã hội thông thường, cũng giống như quan hệ yêu đương giữa các cặp đôi và pháp luật hoàn toàn không có bất cứ quy phạm nào để điều chính. Vấn đề là ở chỗ, quan hệ xã hội thông thường này lại có tác động  động không hề nhỏ đển quan hệ được pháp luật công nhận - quan hệ vợ chồng.

 

II. Ranh giới giữa vi phạm và không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

 

Một câu hỏi thường được các ông chồng bà vợ đặt ra là: Nếu vợ/chồng có bồ nhí thì có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và bị xử lý theo quy định của pháp luật hay không?

 

Quan hệ bồ nhí thường rất đa dạng và phức tạp nhưng tác giả dựa trên yếu tố “sống chung” để quy về 2 nhóm:

 

Nhóm 1: Chỉ có quan hệ yêu đương thông thường (2 người vẫn ở riêng và hẹn hò);

 

Nhóm 2: Có quan hệ yêu đương và sống chung với nhau.

 

Đối với nhóm 1, không có khả năng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Nếu vợ/chồng có bồ nhí và mối quan hệ chỉ là yêu đương đơn thuần thì cả người vợ/chồng đó và người bồ nhí đều không ai vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng do không thỏa các điều kiện về mặt hành vi mà tác giả sẽ phân tích ở nhóm 2 sau đây.

 

Đối với nhóm 2, có khả năng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

 

Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình 2014 cấm hành vi: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Căn cứ theo quy định này thì hành vi kết hôn và hành vi chung sống như vợ chồng khi một bên đã có vợ/chồng là hành vi bị nghiêm cấm. Như vậy, sống chung thì chưa chắc đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng mà phải là “sống chung như vợ chồng” mới vi phạm.


Vậy sống chung như vợ chồng là gi? Tại Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình 2014 nhà làm luật đã giải thích: Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

 

Cách giải thích này góp phần tạo thêm sự hiểu biết về khái niệm sống chung như vợ chồng nhưng nó vẫn còn khá trừu tượng. Như thế nào là tổ chức cuộc sống chung? như thế nào là coi nhau như vợ chồng? Việc vợ/chồng cùng với bồ nhí sống chung trong một ngôi nhà theo lịch trình sẵn có như thứ 2,4,6/3,5,7 liệu có được xem là đã tổ chức cuộc sống chung hay chưa? Yếu tố coi nhau như vợ chồng cũng là vấn đề cần bàn. Việc xưng hô gọi nhau là chồng vợ liệu đã thỏa mãn được yếu tố này, có cần đến việc họ giới thiệu với bạn bè người thân rằng đây là chồng/vợ mình hay không?

 

III. Rủi ro pháp lý có thể xảy đến: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

 

Rủi ro này có khả năng xảy ra đối với vợ/chồng và bồ nhí. Trong mối quan hệ bồ nhí nếu vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng những người trong cuộc có thể bị xử lý hành chính ở mức độ nhẹ, nghiêm trọng hơn có thể bị xử lý ở mức hình sự. Cụ thể:


Xử lý hành chính: Điểm a,b,c Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi năm 2015) quy định mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi:

 

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

- Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

 

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

Xử lý hình sự: Nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự mức nhẹ có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Nặng hơn, có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (Điều 182 Bộ Luật Hình sự 2015):

 

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

 

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

 

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

 

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

 

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

 

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó...

 

Bài viết khác
  Điều tra bổ sung Phúc XO  (26.02.2020)

RỦI RO PHÁP LÝ KHI CÓ BỒ NHÍ

Zalo
Hotline tư vấn miễn phí: +84 934 367 388